TỲ BÀ
.......
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông.
Tin văn
NHÀ THƠ DUY NHẤT CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU RO ĐÃ RA ĐI
NHÀ THƠ DUY NHẤT CỦA ĐỒNG BÀO CHÂU RO ĐÃ RA ĐI
TỪ: Vanvn- Cập nhật ngày: 29 Tháng 1, 2026 lúc 17:45
Nhà thơ Préki Malamak sinh ngày 20.12.1937, trong một gia đình dân tộc Chơ Ro cư trú ở xã Hắc Dịch (Bà Rịa Vũng Tàu cũ). Nhà thơ Préki Malamak tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp tại quê nhà, rồi tập kết ra Bắc. Ông tốt nghiệp khoa ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và dạy học tại Thủ đô từ năm 1965 đến năm 1975. Đất nước thống nhất, ông chuyển vào làm giảng viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
Nhà thơ dân tộc Chơ Ro Préki Malamak. Ảnh: TL
Dân tộc Chơ Ro (hay còn gọi là Châu Ro) là đồng bào bản địa khu vực hạ nguồn sông Đồng Nai. Hiện nay, người Chơ Ro sống tập trung đông nhất ở Phú Lý, Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Nhà thơ Préki Malamak là người Chơ Ro đầu tiên có bằng đại học. Vì vậy, ông cũng trở thành tiếng nói duy nhất của đồng bào Chơ Ro trên thi đàn Việt Nam. Tập thơ “Hát đi em” của nhà thơ Préki Malamak từng được Hội Nhà văn TP.HCM trao giải thưởng năm 2014.
Nhà thơ Préki Malamak sáng tác không nhiều, vì phần lớn thời gian ông dành cho việc nghiên cứu để phục hồi ngôn ngữ Chơ Ro. Trong mấy thập niên gần đây, người Chơ Ro không còn chữ viết, ngay cả bài dân ca “Con sóc bông” nổi tiếng nhất của người Chơ Ro cũng chỉ được lưu truyền bằng cách người này dạy cho người kia hát. Dần dần, người Chơ Ro lấy họ tên theo tiếng Việt. Ví dụ, người Chơ Ro ở Long Khánh lấy họ Đào, người Chơ Ro ở Xuân Lộc lấy họ Văn, người Chơ Ro ở Vĩnh Cửu lấy họ Hồng.
Chính nhà thơ Préki Malamak cũng dùng họ tên Trần Vĩnh, nên ông khao khát biên soạn một cuốn từ điển tiếng Chơ Ro. Đáng tiếc, vài năm qua, sức khỏe của ông suy giảm, nên công trình này vẫn chưa được ra mắt công chúng.
Bây giờ, nhà thơ Préki Malamak không còn nữa. Ai sẽ thay ông phục hồi ngôn ngữ Chơ Ro, vẫn là ẩn số. Thế nhưng, những bài thơ của nhà thơ Préki Malamak gửi lại, ít nhiều giúp cộng đồng hiểu thêm một chút về đồng bào Chơ Ro.
Sinh thời, nhà thơ Préki Malamak luôn sốt ruột câu hỏi về sự tồn tại của người Chơ Ro. Vì vậy, ông viết bài thơ “Châu Ro, ta là ai?” đầy tâm trạng:
Không để lại những lâu đài, cung điện
Những thành quách nguy nga
Những đình chùa, miếu mạo
Những tháp cổ kiêu sa
Những lăng tẩm, mộ phần, bia đá…
Ta là ai, Châu Ro?
Châu Ro, ta là ai?
Từ đâu đến?
Từ Cửu Long giang cổ quàng phù sa đỏ?
Từ biển biếc xa mờ sóng vờn lưng cát nhỏ?
Từ Lang Bian sương mù thác khóc mòn mi đá?
Không để lại ngày sanh tháng đẻ
Không để lại ngày chết năm chôn
Không để lại thanh minh, tảo mộ
Chỉ để lại tiếng vượn buồn kêu lạnh buốt hoàng hôn.
Ta là ai, Châu Ro?
Đâu, những điệu “Tavưn” thịt ông xương bà?
Đâu, những bản tình ca hồn cha vía mẹ?
Đâu, những tiếng chiêng đêm hồn thiêng dân tộc?
Đâu, những lễ tục ngày mùa rượu đổ lụt tràn sân?
Đâu? Đâu? Đâu?
Ta là ai, Châu Ro?
Lục trong mông lung hư không ta kiếm
Bới dưới tầng sâu cát bụi ta tìm
Thấy gì đâu! Thấy gì đâu! Ắng lặng!
Chỉ thấy dấu chân nghèo hằn trên thớ đá khô”.
Cuộc đời nhà thơ Préki Malamak âm thầm như bóng dáng người Chơ Ro trong bản hòa ca 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Ông có lúc thảng thốt “Tuổi già như Châu Ro/ Rễ cắm sâu vào đất/ Lá mập cành sum suê/ Ong về đu võng mật” nhưng ông vẫn đoái vọng vẻ đẹp chìm khuất của đồng bào mình “Tháng Ba Châu Ro/ Thác đổ cầu vồng/ Các thiên thần/ Nằm trần trên đá/ Tóc xõa/ Ngực xõa/ Váy xõa/ Gió thổi…/ Tháng Ba Châu Ro/ Lưỡi lửa bập bùng/ Tay múa nhạc núi/ Mông xòe nhạc rừng”.
Tạm biệt ông và cảm ơn ông, nhà thơ Préki Malamak – Trần Vĩnh. Qua thơ của ông, mọi người có được nhịp cầu nối với đồng bào Chơ Rơ.
LÊ THIẾU NHƠN
Báo Nông NghiệP
ĐÁ
Mẹ sinh tôi trên đá bàn
Cha đẻ tôi trên đá tảng
Rau tôi chôn nơi hốc đá
Da tôi màu đất, tóc tôi màu đá.
Mẹ trỉa lúa trên đá cuội
Mẹ tra ngô trên đá hòn
Cha cõng nước từ hang đá
Cha dựng nhà nơi chân đá.
Cây táu, căm xe, bằng lăng, gõ đỏ...
Gỗ đứng trăm năm ngực lồng nắng gió
Ăn đất của đá, uống nước của đá.
Củ chụp, củ nần, măng le, rau đắng
Sinh con đẻ cái tầng tầng
Nuôi tôi đánh giặc ba mươi năm
Uống nước của đá, ăn màu của đá.
Đánh chiêng tháng ba
Gảy đàn kla tháng mười
Con gái rước chồng về nhà vợ... trên đá.
Đá dựng trập trùng
Thành dinh, thành lũy
Pháp vào Pháp... đi
Mỹ vào Mỹ... đi
Còn tôi và đá.
Tiếng chim vling
Krwach! Krwach! Krwach!
Mày kêu gì đó, ơ... chim vling lông tuyền?
Có khách! Có khách! Buôn có khách!
Khách nào vậy, ơ... chim vling đuôi rẻ quạt?
Người Thái, người Tày, người Mường, người Dao
... từ núi cao đến.
Ơ... các con! Mở cửa nhà rông, mở cổng làng
Luộc gạo nanh chồn thơm ba ngọn núi
Nướng gà mái ấp mập như trái cam
Khiêng rượu ba năm mời bạn bè ăn, uống.
Krwach! Krwach! Krwach!
Mày kêu gì đó, ơ... chim vling mắt đen?
Có khách! Có khách! Có khách!
Khách nào vậy, ơ... chim vling mỏ quạ?
Người Kinh anh em dưới biển lên thăm.
Ơ... các con! Mở cổng làng ra, mở cửa nhà ra
Chiếu bông trải ra, chiếu hoa trải bốn
Rượu hai hàng, ba hàng xếp đứng
Chiêng cột hai dãy, ba dãy, rền vang
Đốt thịt trâu, thịt bò, mời anh em ăn no, uống cạn.
Krwach! Krwach! Krwach!
Mày kêu gì nữa đó, ơ... chim vling mắt lé?
Có khách! Có khách! Tây nguyên có khách!
Khách nào vậy, ơ... chim vling móng sắc?
Ksor Kơk!
Ơ... các con! Đóng cổng làng lại, khóa cửa nhà lại
Lấy ná bắn voi, lấy tên bắn cọp...
Sinh ngày 24.3.1916 (tức ngày 21.2. năm Bính Thìn)
Tại quê ngoại ở xã Phước Lộc, nay là xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ông lớn lên và sống chủ yếu tại quê nội ở thị trấn Thu Xà, thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thị trấn cổ, có nhiều Hoa kiều đến sinh cơ lập nghiệp. Nhờ giao thông thuận tiện, có sông lớn, gần cửa biển, nên Thu Xà đã từng có thời kỳ rất sầm uất, buôn bán thịnh vượng, nhưng đã dần sa sút từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra.